Bệnh nhân tiểu đường ăn cơm thế nào cho tốt?

10:32 |
Gạo trắng luôn bị xem là thực phẩm xấu vì có thể gây tăng đáng kể đường huyết hay glucose trong máu. Tuy nhiên, theo GS Jeyakumar Henry, Giám đốc TT Nghiên cứu dinh dưỡng lâm sàng Singapore (CNRC), ăn bao nhiêu, ăn cùng với gì và thậm chí ăn như thế nào sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn về chỉ số đường huyết. 

GS Henry cho biết 1 trong những nghiên cứu đầu tiên của Trung tâm thực hiện năm 2014 đã thực nghiệm trên món ăn địa phương được yêu thích: cơm gà. Nghiên cứu đăng tải trên tại chí Dinh dưỡng Châu Âu này chỉ ra rằng chỉ số đường huyết (GI) của “gạo trắng là 96 nhưng khi kết hợp với ức gà, dầu đậu phộng và rau, chỉ số này sẽ giảm còn 50). 


Chỉ số GI sẽ đo xem lượng đường trong máu tăng lên bao nhiêu. Chỉ số GI từ 55 trở xuống là tốt và trên 70 là cao. 

Ăn cơm với thịt sẽ giúp giảm chỉ số GI. Chỉ số GI tốt nhất là khi cơm được ăn kèm với đậu phụ, nhưng gà hay cá hay các loại thịt khác cũng đều có tác dụng tốt với chỉ số đường trong máu. 

Một số phát hiện thú vị khác của Trung tâm CNRC là khi ăn cơm gà, tốt nhất nên uống nước canh trước vì như vậy sẽ giúp giảm phản ứng đường huyết của cơ thể. Đó là bởi vì nước canh gà và có lẽ là cả các loại canh thịt khác rất ràu axit amino giúp kích thích sự tăng tiết insulin. 

Một nghiên cứu khác thực hiện bởi Trung tâm này cho thấy uống sữa đậu nành hay sữa cũng giúp giảm đường huyết sau bữa ăn, ngay cả khi đó là sữa đậu nành có đường. 

Trước đó, nhiều nghiên cứu cho thấy ăn gạo trắng sẽ làm tăng đường huyết. Và lượng đường trong máu cao được xem là nguyên nhân dẫn tới tiểu đường, 1 căn bệnh mãn tính có thể gây suy thận, mù mắt và hoại tử chi. Nguyên nhân là do tuyến tuỵ phải hoạt động quá mức để loại bỏ số đường dư thừa trong máu, gây nguy hiểm cho các cơ quan nội tạng. 

Khi điều này diễn ra thường xuyên, tuỵ sẽ bị “mệt mỏi” và đó là dấu hiệu của bệnh tiểu đường. Do đó, giảm chỉ số GI trong thực phẩm sẽ giúp tuyến tuỵ được nghỉ ngơi và làm chậm sự khởi phát của căn bệnh tiểu đường. 

“Có thể nói nghiên cứu này không chỉ hữu ích với bệnh nhân tiểu đường mà cả với người khoẻ mạnh”, GS Henry nói.
Click đọc ngay…

Chế độ dinh dưỡng hợp lý cho bà bầu

14:36 |
Mẹ bầu cần ăn sáng đầy đủ và có chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng để giúp bé phát triển khỏe mạnh sau này. Bạn không cần phải có một chế độ ăn uống đặc biệt, nhưng điều quan trọng là ăn nhiều loại thức ăn khác nhau mỗi ngày để có được sự cân bằng dinh dưỡng mà bạn và em bé của bạn cần.

Bạn sẽ thấy rằng bạn đói hơn so với bình thường, nhưng bạn không cần phải “ăn cho 2 người” - ngay cả khi bạn đang mang thai đôi hoặc ba. Bạn cần phải có một bữa sáng đầy đủ bởi vì điều này có thể giúp bạn tránh ăn vặt các loại thực phẩm có nhiều chất béo và đường. 


Ăn uống lành mạnh thường có nghĩa là chỉ cần thay đổi các số liệu của các loại thực phẩm khác nhau mà bạn ăn để chế độ ăn uống của bạn khác nhau hơn là bạn cắt tất cả các mục ưa thích của bạn. Hơn nữa, bạn cần phải cẩn thận với chế độ ăn của bạn nếu bạn mắc bệnh tiểu đường thai kỳ - bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn một cách chi tiết. 

Trái cây và rau quả 

Ăn nhiều trái cây và rau quả vì chúng cung cấp các vitamin và khoáng chất cũng như chất xơ giúp tiêu hóa và có thể giúp ngăn ngừa táo bón. Ăn ít nhất 5 loại trái cây và rau mỗi ngày - chúng có thể là tươi, đông lạnh, đóng hộp, sấy khô hoặc nước ép. Hãy nhớ luôn luôn rửa chúng một cách cẩn thận trước khi dùng. 

Các loại thực phẩm giàu tinh bột (carbohydrate) 

Các loại thực phẩm giàu tinh bột là nguồn năng lượng quan trọng. Chúng bao gồm cơm, bánh mì, khoai tây, ngũ cốc ăn sáng, các loại mì, khoai lang, ngô, kê, yến mạch… Những thực phẩm này nên là một phần chính của mỗi bữa ăn. Chọn các loại bột nguyên hạt thay vì xử lý kỹ hoặc khoai tây còn vỏ khi bạn có thể vì chúng có chứa nhiều chất xơ hơn. 

Protein 

Bạn cần phải ăn một số loại thực phẩm protein mỗi ngày. Nguồn protein bao gồm: thịt, cá, thịt gia cầm, trứng, đậu, hạt đậu… Chọn thịt nạc, bỏ da gà, vịt và cố gắng không thêm chất béo hoặc dầu khi nấu. Hãy chắc chắn rằng trứng, thịt gia cầm, xúc xích và các thịt khác như thịt cừu, thịt bò và thịt lợn được nấu chín. 

Cố gắng ăn 2 bữa cá hoặc hơn mỗi tuần, một trong số đó nên là loại cá nhiều dầu như cá hồi, cá mòi hoặc cá thu. 

Sữa và chế phẩm từ sữa 

Thực phẩm từ sữa như sữa, pho mát, sữa chua rất quan trọng trong thời kỳ mang thai vì chúng có chứa canxi và các chất dinh dưỡng khác mà thai nhi cần. Chọn loại có chất béo thấp nhất có thể, chẳng hạn như bánh tách kem hoặc sữa tách kem, sữa chua ít chất béo với lượng đường thấp và pho mát cứng ít béo. Mục tiêu cho 2-3 phần mỗi ngày. 

Các loại thực phẩm nên hạn chế 

Chất béo và đường bao gồm: tất cả các chất béo như bơ, dầu, salad, kem, chocolate, khoai tây chiên giòn, bánh quy, bánh ngọt, bánh tráng miệng, đồ uống có ga…Bạn chỉ nên ăn một lượng nhỏ trong những thực phẩm này. 

Thức ăn ngọt và đồ uống thường chứa lượng calo cao có thể góp phần vào việc tăng cân. Thức ăn ngọt và đồ uống cũng có thể gây sâu răng. Chất béo có chứa rất nhiều calo, vì vậy, ăn quá nhiều thức ăn béo hoặc ăn chúng quá thường xuyên có thể làm cho bạn tăng cân. 

Có chất béo bão hoà quá nhiều có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu, làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tim mạch. Hãy cố gắng cắt giảm chất béo bão hòa và có một lượng nhỏ thức ăn giàu chất béo không bão hòa thay thế. 

Đồ ăn nhẹ lành mạnh 

Nếu bạn cảm thấy đói giữa các bữa ăn, cố gắng không ăn đồ ăn nhẹ có nhiều chất béo và/hoặc đường như kẹo, bánh quy, khoai tây chiên giòn hay sôcôla. Thay vào đó, chọn một cái gì đó lành mạnh hơn, chẳng hạn như: bánh mì, uống sữa hoặc trái cây tươi. 


BS. Trần Tất Đạt
Click đọc ngay…

Mùa đông nên ăn gì cho tốt?

09:38 |
Vào mùa đông, nhiệt độ thấp, khiến sức đề kháng cơ thể yếu kém và nhiều người có nguy cơ mắc các bệnh lây nhiễm. Chính vì vậy, việc ăn uống đủ dưỡng chất giúp cơ thể nâng cao thể trạng chống lại với thời tiết lạnh và bệnh tật. 

Thực phẩm giàu vitamin C

Vitamin C là một trong những chất chống ôxy hóa, có tác dụng làm tăng sức đề kháng, bảo vệ thành mạch và hỗ trợ hấp thu sắt, canxi.


Khi thiếu vitamin C, da sẽ bị khô, dễ bị xuất huyết dưới da (da dễ bị bầm tím khi va chạm nhẹ), chảy máu cam, chảy máu nướu răng, vết thương chậm lành. Chính vì vậy, để tăng cường khả năng miễn dịch, phòng tránh nguy cơ nhiễm virut do cảm lạnh, chúng ta cần tăng cường vitamin C. 

Vitamin C cũng là một chất chống ôxy hóa quan trọng trong huyết tương, trong các dịch ngoài tế bào khác và trong các tế bào. 

Thực phẩm giàu vitamin C là những thực phẩm có nguồn gốc thực vật và động vật, đặc biệt gan và thận được xem là có nguồn vitamin C đáng kể. Trong hoa quả, nhất là cam, chanh, bưởi, quýt chứa nhiều vitamin C và bioflavonoid, giúp chống cảm cúm, cảm lạnh hiệu quả. Tuy nhiên, cần lưu ý vitamin C bị mất rất nhiều trong quá trình bảo quản, chế biến. 

2. Thực phẩm giàu vitamin D

Là một loại vitamin khá đặc biệt so với những loại khác. Ngoài khả năng giúp xương chắc khỏe nhờ điều phối chuyển hóa canxi, vitamin D còn có vai trò đối với hệ miễn dịch. Theo đó, vitamin D giúp hấp thu canxi, tham gia điều hòa một số men, chức năng bài tiết insulin, hormon cận giáp, hệ miễn dịch. 

Những đối tượng trong diện có nguy cơ cao như người cao tuổi, trẻ nhỏ rất cần bổ sung vitamin D liều dự phòng. Một lượng 400 IU/ngày(10mg) được khuyến nghị cho trẻ em, người trưởng thành, phụ nữ có thai và cho con bú. 

Thực phẩm giàu vitamin D có trong trứng, sữa, bơ, gan cá... Ngoài ra, nấm có một lượng lớn các chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin D. Nấm có khả năng giảm huyết áp, giúp giảm cân, kiểm soát bệnh đau nửa đầu, và duy trì quá trình trao đổi chất. 

3. Thực phẩm giàu canxi

Khi thời tiết lạnh nhiệt độ thấp rất dễ gây nên những cơn chuột rút ở chân, để phòng tránh hiện tượng này, cần tăng cường các thực phẩm giàu canxi (giúp đảm bảo tốt sự dẫn truyền các xung động thần kinh, dự phòng một cách hiệu quả nguy cơ chuột rút trong mùa Đông). 

Có thể bổ sung nguồn canxi trong các thực phẩm như sữa và chế phẩm như sữa tươi, sữa chua, phó mát, sữa đậu nành. Một số loại ngũ cốc và hạt đậu cũng có lượng canxi cao nhưng hấp thu kém hơn sữa. Canxi có thể tìm thấy trong thịt, cá, tôm, cua. 

Ở một số trường hợp như phụ nữ mang thai, người sau ốm, trẻ nhỏ cần bổ sung can xi theo đường uống cần tuân thủ theo đơn của bác sĩ. Ngoài ra, để tăng cường sức đề kháng nâng cao thể trạng cần ăn thức ăn ấm nóng, gia vị như tỏi, gừng; các loại rau mầm và uống đủ nước rất tốt cho cơ thể. 


BS.Nguyễn Hà
Click đọc ngay…

Món ăn giúp lợi sữa cho bà mẹ sau sinh

09:49 |
Theo kinh nghiệm của YHCT, các thực phẩm như giá, rau đay, đậu phộng, cá chép, mè, quả mít non, mướp, xà lách, rau lang, quả sung, chân giò heo… có tác dụng giúp lợi sữa. Nếu khéo tay, từ những thực phẩm trên, còn có thể chế biến thành những món ăn ngon miệng. 

Đu đủ hầm chân giò heo 

Nguyên liệu: một trái đu đủ xanh khoảng 200g được gọt sạch vỏ, rửa sạch, bỏ hết hạt bên trong, rồi cắt thành từng khúc dày khoảng 2cm, chân giò heo 200g. 



Tiến hành: chân giò heo rửa sạch bỏ vào trong nồi, chế vào khoảng 1 lít nước. Nấu sôi, vớt bọt, cho vào khoảng nửa muỗng nước mắm, tiếp tục hầm cho mềm. Bỏ đu đủ vào, tiếp tục hầm cho đến khi đu đủ mềm. Sau khi tắt bếp, cho thêm vào 2 muỗng nhỏ hạt nêm, hành, ngò. Dùng khi còn nóng. 

Giá xào tôm 

Nguyên liệu: giá 200g, tôm thẻ 100g. 

Tiến hành: tôm bóc vỏ, loại bỏ đường chỉ trên lưng, rửa sạch rồi ướp với 1 muỗng cà phê nước mắm, một ít bột nêm, một củ hành băm nhuyễn trong thời gian 15 phút. Bắc chảo dầu lên bếp, phi hành cho thơm, cho tôm đã ướp vào. 

Khi tôm chín thì múc ra chén. Xào giá nhanh, sau đó bỏ tôm vào trộn đều. Sau khi tắt bếp cho thêm chút hành, ngò để tăng thêm sự hấp dẫn của món ăn. Món này cũng có thể dùng trước ngày sinh nở rất tốt vì theo kinh nghiệm của Đông y, sản phụ trước và sau khi sinh sử dụng món ăn làm từ giá sẽ giúp ích cho sự tiết sữa. 

Đậu phộng (lạc) hầm với bí đỏ 

Bí đỏ gọt vỏ, bỏ ruột, cắt khúc dày khoảng 3cm. Đậu phộng 100g rửa sạch và ngâm khoảng 30 phút, cho vào cùng với khoảng 1 tô nước, hầm cho đậu mềm. Khi đậu mềm thì cho bí đỏ vào hầm chung. Khi bí chín thì cho vào nửa muỗng canh nước mắm, một ít hạt nêm. Tắt bếp và cho thêm một ít hành ngò. 

Gỏi mít non 

Quả mít non, gọt bỏ phần vỏ, cắt thành từng miếng dày khoảng 5cm. Luộc cho mềm rồi vớt ra, bào mỏng. Mè 30g rang cho thơm, giã nhỏ, trộn vào mít non cùng với tôm và thịt đã luộc chín trước. Cho thêm vào 1 muỗng canh nước mắm tỏi, trộn đều. 

Theo YHCT, mè và quả mít non đều giúp tăng tiết sữa. Chính vì thế, món ăn này hết sức hữu ích cho sản phụ ít sữa. 

Canh mướp chân giò heo 

Mướp một trái 200g, gọt vỏ, rửa sạch, rồi cắt thành khúc. Chân giò heo 200g, cho vào nồi nước hầm, khi sôi thì vớt bọt, cho vào nồi nửa muỗng canh nước mắm, để nhỏ lửa cho đến khi chân giò heo mềm. Cho mướp vào. Nấu thêm khoảng 2 - 3 phút. Sau khi tắt bếp, thêm vào một ít hạt nêm và hành, ngò. 


Canh tôm rau đay 

Tôm bóc vỏ, loại bỏ đường chỉ trên lưng, rửa sạch, quết nhuyễn, ướp với với 1 muỗng cà phê nước mắm, một ít bột nêm, một củ hành băm nhuyễn trong thời gian 15 phút. Đun sôi khoảng 1 lít nước, rồi cho tôm vào nấu trong 5 phút. Thả rau đay đã được cắt nhỏ vào nồi tôm. Nấu thêm khoảng 2-3 phút nữa. 

Rau lang luộc 

Mỗi lần luộc khoảng 200g rau lang. Khi ăn có thể chấm với muối mè. 

Quả sung nấu với chân giò heo 

Sung 10 quả, bỏ cuống, rửa sạch, cắt làm đôi. Chân giò heo 200g rửa sạch bỏ vào trong nồi, chế vào nồi khoảng 1 lít nước. Nước sôi, vớt Nấu sôi, vớt bọt, cho vào khoảng nửa muỗng nước mắm, tiếp tục hầm cho mềm. Bỏ quả sung vào, tiếp tục hầm cho đến khi sung mềm. Sau khi tắt bếp, cho thêm vào 2 muỗng hạt nêm, hành, ngò. Dùng khi còn nóng.

Canh cá chép đậu đỏ 

Cá chép một con, bỏ nội tạng, ướp với mắm, hành băm nhuyễn, tiêu. Đâụ đỏ ngâm 60 phút rồi cho vào nồi nước hầm cho mềm. Cho cá đã ướp vào, nấu thêm khoảng 10 phút. Tắt bếp, cho thêm bột nêm và hành, ngò vào. 

Cháo chân giò heo, thông thảo 

Thông thảo 10g nấu lấy nước, bỏ xác thuốc. Dùng nước thuốc để nấu cháo với 2 chân giò heo 


BS. HỒ ĐĂNG KHOA
Click đọc ngay…

Giải pháp cho trẻ suy dinh dưỡng thấp còi

09:30 |
Hầu hết các bậc cha mẹ thường chỉ quan tâm đến cân nặng của con, ít khi chú ý đến chiều cao của trẻ, ngay cả khi sinh các nữ hộ sinh cũng chỉ cần trẻ mà ít khi đo chiều dài của trẻ là bao nhiêu. Chiều dài của trẻ khi sinh cũng rất quan trọng, nó phản ánh tình trạng dinh dưỡng sau này của trẻ. 

Có 3 giai đoạn quan trọng để trẻ phát triển chiều cao: 

- Giai đoạn bào thai: nếu trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai hoặc sinh non tháng nhẹ cân thấp chiều cao thì nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi rất cao. 

- Giai đoạn trẻ dưới 2 tuổi: chiều cao lúc trẻ 2 tuổi bằng 1/2 chiều cao lúc trẻ trưởng thành, vì vậy nuôi trẻ dưới 2 tuổi là vô cùng quan trọng. 

- Giai đoạn tuổi tiền dậy thì: 10 – 13 tuổi ở trẻ gái, 13 - 17 tuổi ở trẻ trai. Vì vậy, nếu trẻ gái sau khi hành kinh, trẻ trai sau 17 tuổi sẽ rất khó có thể cao được nữa. 

Suy dinh dưỡng thấp còi là gì? 

Đây là tình trạng trẻ chậm phát triển chiều cao, chỉ đạt dưới 90% so với chiều cao chuẩn. Suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng mãn tính kéo dài. 



Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện nay có khoảng 29,5% số trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDD thấp còi, với khoảng 154 triệu trẻ em. Hầu hết các trường hợp thấp còi xảy ra trước khi trẻ được 3 tuổi. 

Trẻ em bị thấp còi sau này trở thành người lớn cũng có chiều cao thấp. Hơn nữa, những người bị SDD thấp còi thường có nguy cơ tử vong cao, dễ mắc bệnh hơn, lao động kém hơn so với người bình thường. 

 Theo mô hình chu trình dinh dưỡng - vòng đời do Tiểu ban dinh dưỡng của Liên Hợp Quốc đưa ra tại Hội nghị dinh dưỡng về những thách thức cho thế kỷ XXI thì trẻ em thấp còi về sau trở thành người lớn cũng có chiều cao thấp. Trẻ em gái bị SDD thấp còi lớn lên trở thành người phụ nữ thấp còi và khi đẻ con thì nguy cơ SDD thấp còi cho con cao hơn. 

Những trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thấp còi 

- Trẻ sinh non. 

- Trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai: trẻ sinh đủ tháng nhưng có cân nặng sơ sinh < 2.500g. 

- Trẻ bị dị tật bẩm sinh. 

- Trẻ bị rối loạn tiêu hóa kéo dài. 

- Trẻ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa. 

- Trẻ bị còi xương. 

- Trẻ được nuôi dưỡng không hợp lý. 

Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi

- Ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ. 

- Ảnh hưởng đến chất lượng nòi giống. 

- Trẻ dễ bị béo phì do thấp chiều cao. 



Làm gì để giúp trẻ? 

Chiều cao của trẻ do nhiều yếu tố quyết định, trong đó có 3 yếu tố chính: 

- Di truyền. 

- Chế độ dinh dưỡng. 

- Luyện tập thể dục thể thao. 

Như vậy, có 2 yếu tố có thể tác động và can thiệp được đó là chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể dục thể thao. 

Về chế độ dinh dưỡng: 

- Cung cấp đủ năng lượng theo lứa tuổi của trẻ, trẻ không thể cao được nếu chế độ ăn thiếu năng lượng, bằng cách ăn đủ các bữa cháo, bột, cơm… hàng ngày theo tháng tuổi, bổ sung đầy đủ dầu mỡ trong các bữa ăn. 

- Ưu tiên các thức ăn chứa nhiều chất đạm: thịt, cá, tôm ,cua, trứng, sữa. 

- Chọn các thực phẩm giàu canxi, sắt, kẽm: cũng chính là các thức ăn có nguồn gốc động vật, giàu chất đạm: trứng, sữa, thủy sản, thịt… đặc biệt các loại thức ăn có chứa nhiều kẽm như: thịt gà, thịt cóc, con hàu... vì thiếu kẽm là một trong những nguyên nhân gây chậm phát triển chiều cao ở trẻ em. 

- Nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng và tiếp tục bú đến 2 tuổi, nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa thì phải được bổ sung sữa bột công thức theo tháng tuổi, khi trẻ đã lớn vẫn phải duy trì uống sữa hàng ngày vì sữa là nguồn cung cấp canxi chính trong bữa ăn của trẻ, nhất là trẻ còn nhỏ chưa ăn được nhiều tôm, cua, cá. Hơn nữa canxi trong sữa lại dễ hấp thu hơn trong các loại thực phẩm khác. 

- Ăn nhiều rau xanh quả chín, cũng giúp trẻ phát triển chiều cao vì rau quả cung cấp nhiều vi chất dinh dưỡng, hơn nữa lại phòng ngừa táo bón giúp trẻ hấp thu tốt các vi chất như: canxi, sắt, kẽm… Chế độ ăn cũng cần bổ sung các vi chất dinh dưỡng dưới dạng thuốc như: vitamin D, vitamin A, canxi, kẽm, sắt… theo hướng dẫn của bác sĩ. 

- Điều trị kịp thời các bệnh còi xương, rối loạn tiêu hóa khi trẻ mắc phải. 

Chế độ luyện tập thể dục thể thao cũng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển chiều cao của trẻ: các môn thể thao giúp trẻ phát triển chiều cao: bơi lội, đạp xe, chạy, chơi cầu lông… khi trẻ đã lớn chọn các môn thể thao phù hợp với tuổi của trẻ.

Như vậy, để trẻ lớn lên khỏe mạnh thông minh, các bà mẹ không chỉ quan tâm đến cân nặng của trẻ mà còn phải quan tâm đến chiều cao, vì chiều cao chỉ có từng giai đoạn để trẻ phát triển, nếu bỏ qua sẽ không thể lấy lại được. 


BS.ThS. LÊ THỊ HẢI
Click đọc ngay…

Những điều cần biết để chọn chế độ ăn kiêng lành mạnh

23:30 |
Ăn kiêng không chỉ để giảm cân mà còn tăng sức khỏe, hỗ trợ chữa một số bệnh. 

Ăn kiêng và thiếu chất 

Ăn kiêng đúng và tốt là đảm bảo mục đích cuối cùng giảm cân hoặc hỗ trợ chữa bệnh nhưng phải đảm bảo sức khỏe, đủ chất không gây bệnh khác. Mục đích ăn kiêng là giảm lượng calorie dư thừa chứ không phải để bạn thiếu chất. Điều đó có nghĩa là chế độ ăn kiêng giúp bạn khỏe mạnh và đẹp hơn chứ không có nghĩa là hành xác để giảm cân. 



Ăn kiêng giảm cân 

Những sai lầm thường gặp: 

• Chỉ nghĩ tới nên ăn và không nên ăn gì mà bỏ qua cách ăn. Bạn đừng vội tẩy chay hẳn một loại thức ăn mà bạn nghĩ nó sẽ làm bạn tăng cân. Hãy hạn chế và dùng nó ở mức an toàn. 

• Quan niệm chỉ ăn rau sẽ giảm cân hoàn toàn có hại cho cơ thể. 

• Chỉ ăn ngũ cốc thay thức ăn bổ dưỡng như thịt cá cũng là suy nghĩ sai lầm, vì ngũ cốc thực chất là thủ phạm tích trữ mỡ vùng bụng. 

• Không phải cứ ăn đêm là béo. Chế độ ăn kiêng phải hợp với từng đối tượng, từng cơ thể và cơ chế làm việc của mỗi người. Hãy điều chỉnh một cách linh hoạt: Nếu bạn làm việc đêm thì đừng hạn chế ăn tối. 

• Nhiều người cho rằng bỏ bữa sáng là cơ hội tranh thủ giảm calorie vào cơ thể. Thực chất bữa sáng rất có lợi cho sức khỏe và tinh thần làm việc cả ngày nên thay vì bỏ bữa sáng bạn hãy ăn ít vào bữa khác. 

• Nước ép hoa quả có thể thay thế hoa quả tươi. Sự thật là nước ép hoa quả luôn có lượng calorie cao hơn nhiều và lượng chất xơ đã giảm do đó không thay thế được. 

• Nhiều người cho rằng, có thể ăn thoải mái nếu đang dùng thuốc giảm cân. Nhưng thuốc giảm cân chỉ có tác dụng bổ trợ. Khi dùng thuốc, bạn nên chú ý thành phần xem có hợp với cơ thể mình không. 

• Tin rằng dấm có thể giảm cân là hoàn toàn hạ sách. Dấm chỉ làm phá vỡ sự ổn định của các chất dịch trong dạ dày, gây viêm loét dạ dày. 

• Quan niệm giảm càng nhanh càng tốt kéo theo hệ lụy là sức khỏe của bạn bị suy sụp. Mức an toàn là giảm tối đa 0,5-1kg/tuần. 

• Bơ vốn bị oan là loại quả có nhiều chất gây béo nhưng sự béo ngậy đó không phải chất béo dầu mỡ, không có tác dụng thừa mỡ và cholesterol. 

Ăn kiêng chữa bệnh 

• Người cao huyết áp nên kiêng ăn nội tạng, tiết và ít chất béo. 

• Bệnh tiểu đường nên kiêng ăn các sản phẩm bơ sữa, chất béo, đường, thịt gia cầm. 

• Người dễ dị ứng nên kiêng thức ăn làm dị ứng. 

• Phụ nữ bệnh phụ khoa nên kiêng ăn lạnh, thức ăn sống trong ngày thời kỳ kinh. 

• Người có bệnh đường tiêu hóa nên kiêng phàm ăn giảm gánh nặng cho ruột, hệ tiêu hóa... 

• Người bệnh khi dùng thuốc cũng cần biết đến chuyện ăn kiêng tránh phản tác dụng của thuốc: Dùng mật ong thì tránh tỏi, hành. Ăn cua, cá chép thì bỏ tía tô, kinh giới. Uống bổ sung sắt thì kiêng lá chè, bổ nhân sâm thì kiêng củ cải... 

• Những thông tin về ăn kiêng này, bạn nên nghe thầy thuốc và hướng dẫn trên nhãn thuốc.


Tác dụng phụ của ăn kiêng 

Rối loại hormone: Khi cắt giảm calorie đột ngột sẽ làm lượng đường trong máu giảm theo, khiến huyết áp không ổn định. 

Rối loạn chuyển hóa: Nếu cơ thể không nhận đủ thức ăn nó sẽ tự bảo vệ, chuyển thức ăn thành năng lượng chậm đi 15%. Lâu ngày ăn kiêng làm hỏng cả hệ thống miễn dịch, giảm sức đề kháng. 

Rối loạn trí óc: Nỗi lo về cân nặng và ăn kiêng sai lầm dễ dần người vào mất tập trung, khủng hoảng tinh thần. 

Làm da xấu đi: Ăn kiêng làm da bạn nhăn và xám lại. 

Những bước quan trọng để ăn kiêng thành công: 

- Chế độ ăn thường xuyên theo lịch trình để giúp bạn nhớ quy tắc ăn hợp lý. 

- Ăn nhiều bữa phụ một ngày là cách để hạn chế cảm giác đói duy trì lượng đường trong máu tránh hạ huyết áp. Nên chú ý ăn ít.

- Chọn rau nhiều vitamin A, D, chất xơ. 

- Đừng bắt cơ thể bạn làm việc trong tình trạng thiếu chất nhưng cũng đừng bắt chúng cất giữ lượng thừa quá lớn. 

- Không có chế độ ăn kiêng nào thành công nếu thiếu tập thể dục kèm theo.
Click đọc ngay…

Khẩu phần ăn ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng ở trẻ

10:09 |
Hiện nay, tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu hụt dưỡng chất ở trẻ vẫn còn rất cao. Ngay cả đối với những gia đình có điều kiện chăm sóc bé tốt thì tình trạng này vẫn xảy ra. Vậy nguyên nhân do đâu? 

Bữa ăn sáng của trẻ 

Cũng giống như người lớn, trẻ luôn cần được ăn sáng đầy đủ. Một bữa sáng đủ chất không những cung cấp cho bé nguồn năng lượng sau một giấc ngủ đêm dài, mà còn giúp bé trở nên nhanh nhẹn, linh hoạt hơn trong học tập cũng như trong mọi hoạt động khác.



Tuy nhiên, hiện nay nhiều người thường thức dậy muộn và chỉ cho con ăn sáng bằng cách uống sữa, ăn bánh ngọt… Cứ như vậy trong thời gian dài sẽ tạo ra sự thiếu hụt dưỡng chất ở trẻ. 

Một bữa sáng đủ dinh dưỡng phải đủ 4 nhóm chất gồm: chất đạm (protein), giúp bộ não hoạt động tốt; một ít chất béo (lipid) và chất bột đường (carbonhydrate) để tinh thần và thể chất năng động hơn; một ít rau xanh hay hoa quả tươi để bổ sung thêm vitamin và chất xơ. 

Bữa ăn học đường 

Nhiều nghiên cứu cho thấy, bữa ăn học đường là yếu tố quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng cũng như khả năng học tập, sáng tạo của trẻ. Ở các thành phố lớn của nước ta hiện nay, học sinh thường ăn tại trường (bữa ăn trưa và bữa quà chiều). 

Mỗi bé lại có thói quen ăn uống khác nhau. Do vậy, sẽ rất dễ xảy ra tình trạng bé bỏ bữa, lười ăn hoặc ăn không ngon miệng khi ăn tại trường. Nếu tình trạng này kéo dài thì cân nặng và sự phát triển của trẻ cũng sẽ bị ảnh hưởng. 

Khẩu phần ăn hằng ngày 

Không chỉ đối với người lớn mà trẻ nhỏ cũng rất cần được cung cấp một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý với 4 nhóm thực phẩm chính. 

- Nhóm chất bột đường (bột, cháo, cơm…) là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần hằng ngày của bé. 

- Chất đạm (thịt, cá, đậu...) với chức năng chính là tạo hình như giúp cơ thể bé xây dựng cơ bắp, tạo kháng thể, đặc biệt là phát triển tế bào não và cung cấp một phần nhỏ năng lượng (14 - 15%). 

- Chất béo vừa cung cấp năng lượng, tăng khả năng ngon miệng lại giúp trẻ hấp thu tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. 



Vitamin K có nhiều trong cải bó xôi, cải xoăn, củ cải tươi, cải bẹ xanh, súp lơ…; Vitamin E có nhiều trong các loại củ quả có màu đỏ như cà chua, cà rốt, các loại hạt, củ như lạc, đỗ; dầu thực vật… Vitamin A có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật. 

Các loại rau quả có màu đậm (như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ...) có nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A. 

- Vitamin và khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng với việc phát triển, tăng trưởng, điều hoà các chuyển hoá trong cơ thể của trẻ cũng như tăng cường sức đề kháng phòng, chống bệnh tật. Việc thiếu hụt một trong các chất này sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng, ảnh hưởng không tốt đến sự tăng trưởng và phát triển của bé cả về thể lực và trí tuệ. 

Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ cũng là điều mà các bậc phụ huynh nên lưu ý. Cần lựa chọn chế biến cho trẻ những loại thực phẩm tươi ngon, giàu chất dinh dưỡng và có hạn sử dụng rõ ràng (với những loại thức ăn đóng hộp). 


Bác sĩ Hoàng Văn Phong
Click đọc ngay…

Nguồn gốc của sức khỏe bắt nguồn lựa chọn thực phẩm đúng

18:52 |
Những năm gần đây, khoa học dinh dưỡng phát triển đã xác nhận có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng với sức khỏe và bệnh tật. Chế độ ăn có ảnh hưởng lớn trong việc duy trì sức khỏe, cải thiện năng lực và trí tuệ… 

Vi chất - hàm lượng nhỏ vai trò lớn 

Cả đời người chúng ta chỉ cần khoảng 1 muỗng cà phê iod, 3 muỗng cà phê vitamin A nhưng sự thiếu hụt nó đang gây nên cho thế giới những tổn thất to lớn: hàng triệu người thiếu iod bị bướu cổ, chậm phát triển thể chất và trí tuệ, hàng triệu trẻ em và bà mẹ thiếu vitamin A đã bị mù mắt và tử vong, hàng triệu phụ nữ trong giai đoạn sinh sản bị thiếu máu do thiếu sắt... 



Có khoảng 40 vi chất dinh dưỡng quan trọng đối với sức khỏe con người. Nếu chúng ta không quan tâm đến chúng trong khẩu phần ăn hàng ngày thì rất dễ có nguy cơ bị thiếu hụt bởi lẽ sự thiếu hụt này xảy ra từ từ, đến khi các triệu chứng nặng xuất hiện chúng ta mới nhận ra rằng mình thiếu vi chất dinh dưỡng. 

Việc bổ sung vi chất có tính toàn cầu như bổ sung iod, sắt, vitamin A vào thực phẩm đã có tác dụng phòng được các bệnh bướu cổ, thiếu máu thiếu sắt, nguy cơ mù lòa do thiếu vitamin A. Thức ăn được bổ sung vitamin, khoáng chất nhiều là bột mì, gạo, muối, bột trẻ em, sữa, nước uống, gia vị, đường. 

Yếu tố quan trọng cấu thành bữa ăn hợp lý 

Có nhiều yếu tố cấu thành “bữa ăn hợp lý”. Một trong những chất ít được quan tâm nhất nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng là chất xơ thực phẩm. Chất xơ thực phẩm được định nghĩa là những phần ăn được của thực vật hoặc chất tương tự carbohydrate, không tiêu hóa và hấp thu được trong ruột non người, nhưng bị lên men một phần hoặc hoàn toàn trong ruột già. 

Trong thực phẩm chất xơ có hai loại, loại hòa tan trong nước và loại không hòa tan. Chúng có nhiều trong rau, quả, đậu, vỏ hạt ngũ cốc. Khi ăn chất xơ từ các nguồn này đồng thời còn giúp cung cấp cho cơ thể nhiều dưỡng chất thiết yếu khác như: các vitamin, khoáng chất; các chất chống oxy hóa có lợi cho sức khỏe của con người. 

Tuy vậy, ngày nay các chất xơ thực phẩm tinh chế cũng đang rất phổ biến. Một trong những chất xơ tinh chế đang được sử dụng ngày càng rộng rãi hiện nay là oligofructose, một chất xơ tan có tác dụng giúp bảo vệ đường tiêu hóa và tăng cường hấp thụ khoáng chất, được bổ sung nhiều trong các loại sữa bột. 

Những chất xơ thực phẩm có tính nhớt cản trở sự hấp thu acid mật ở hồi tràng, kết quả cholesterol “xấu” (LDL) được lấy từ máu về gan để tổng hợp bù lượng acid mật mất theo phân. Hiệu ứng này làm giảm lượng cholesterol “xấu” trong máu, có lợi cho việc phòng ngừa và điều trị bệnh tim mạch. 

Thực phẩm có lượng chất xơ thích hợp thường có thể tích lớn hơn so với thực phẩm cùng mức năng lượng nhưng nghèo xơ thực phẩm. Khối thực phẩm lớn hơn cần thời gian ăn lâu hơn. Đồng thời, người ta có thể ăn no với lượng calorie ít hơn, no lâu hơn. 

Tất cả các điều này sẽ giúp điều trị hiệu quả bệnh béo phì, chứng triglyceride máu cao (cũng liên quan đến bệnh tim mạch). Khi vào đường tiêu hóa, chất xơ thực phẩm hút nước làm phân mềm xốp, giúp nhuận tràng, phòng chống táo bón. 

Một số nghiên cứu còn cho thấy chất xơ giúp phòng bệnh loét tá tràng và ung thư vùng tâm vị dạ dày. Các tác dụng có lợi như trên của chất xơ thực phẩm chỉ có được khi ta ăn chúng một lượng hợp lý, mà theo Viện Dinh dưỡng là khoảng 300g rau/ngày, quả chín ăn theo khả năng, đồng thời phải uống đủ nước (tương đương 1,5 - 2l/ngày) 



Acid béo thiết yếu và vi sinh vật có lợi cho đường ruột 

Trong đường ruột của cơ thể có trên 400 chủng vi khuẩn sinh sống, tạo ra một hệ vi khuẩn ruột. Hệ vi khuẩn ruột có thể chia thành hai nhóm: nhóm vi khuẩn có lợi, làm tăng cường sức khỏe và nhóm vi khuẩn có thể gây bệnh. Bình thường, nhóm vi khuẩn có lợi chiếm ưu thế, chiếm đa số, có từ 106 - 1.010 vi khuẩn /gam phân, còn nhóm vi khuẩn gây bệnh là nhóm thiểu số, chỉ có dưới 106 vi khuẩn /gam phân. 

Một khi nhóm vi khuẩn gây bệnh chiếm ưu thế hơn nhóm vi khuẩn có lợi thì sẽ gây bệnh cho cơ thể. Vi khuẩn có lợi chính ở hệ vi khuẩn ruột là lactobacilli và bifidobacteria. Các vi khuẩn có lợi cho sức khỏe có chức năng cạnh tranh không cho vi khuẩn gây bệnh định cư ở đường ruột, kích thích miễn dịch chống nhiễm trùng, giúp tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, tổng hợp một số vitamin nhóm B và vitamin K. Sữa chua là một đồ ăn có chứa lactobacillus. 

DHA (Docosaheaenoic Acid) và ARA (Arachidonic Acid) là những thành phần acid béo thiết yếu, có nhiều trong dầu thực vật, dầu cá, dầu đậu nành là thành phần quan trọng của màng tế bào, thành phần quan trọng của não và võng mạc, rất cần thiết cho sự phát triển tinh thần, trí tuệ và thị lực cho trẻ em. Việc bảo đảm sức khỏe không chỉ có một chế độ dinh dưỡng hợp lý, khoa học mà còn phải kết hợp tập luyện thân thể hằng ngày và một tinh thần thoải mái. 


BS.NGỌC HẢI
Click đọc ngay…

Bánh mỳ không tốt như chúng ta vẫn lầm tưởng

09:41 |
Bánh mỳ là món ăn ưa thích vào buổi sáng bởi tính tiện dụng. Tuy nhiên, chớ nên ăn nhiều thực phẩm này để tránh các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, nhất là với những người mắc bệnh tim mạch tiểu đường và những người béo phì… 

Mặc dù không có chất bảo quản hay các độc tố có hại cho sức khỏe nhưng bánh mỳ lại có chứa hàm lượng muối hay các chất phụ gia không tốt cho sức khỏe. 

Tại sao không nên ăn bánh mỳ 



1. Chứa nhiều muối 

Bánh mỳ có chứa hàm lượng muối cực lớn, nhất là với những loại bánh mỳ đóng gói sẵn thì lượng muối này còn cao gấp nhiều lần. Với những người thường xuyên sử dụng các món ăn làm từ bánh mỳ như pizza, hamburger hay sandwich dù chỉ ăn một phần cũng nạp vào cơ thể môt lượng muối vượt mức cho phép. 

2. Nghèo dưỡng chất 

Thực chất, bánh mỳ không cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể. Nếu thường xuyên sử dụng thực phẩm với lượng lớn sẽ gây nguy cơ thiếu chất dinh dưỡng. Hơn thế nữa, trong bánh mỳ còn chứa axít phytic ngăn cản quá trình hấp thụ các khoáng chất như sắt, kẽm và canxi. 

3. Khó hấp thu

Khi axít phytic gặp các chất dưỡng chất này không hề tạo thành chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể mà sẽ tạo thành phản ứng hóa học gây tổn hại niêm mạc ruột, khiến việc hấp thu chất dinh dưỡng gặp khó khăn. Hàm lượng tinh bột và dầu ăn không no trong bánh mỳ sẽ khiến cơ thể nhanh chóng tăng cân và gây béo phì. 

4. Khó tiêu hóa 

Bánh mỳ không chứa nhiều chất dinh dưỡng, chất xơ cần thiết cho cơ thể mà chỉ có một lượng nhỏ tinh bột và hàm lượng muối cao nên dễ gây táo bón và ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. 

5. Gây bệnh mệt mỏi mãn tính 

Trong bánh mỳ chứa chất tương tự như protein biến đổi gene nên có thể gây ra các triệu chứng mệt mỏi liên tục, kéo dài kết hợp với tình trạng thừa cân. Đây được cho là nguyên nhân gây ra căn bệnh thế kỷ là mệt mỏi mãn tính cho nhiều người. 

Nguyên nhân của tình trạng này là do thành phần chất dinh dưỡng nghèo nàn trong bánh mỳ và nhất là gần như không hề có chất xơ khiến não bộ khó có thể làm việc bình thường. 

6. Gây hại cho thận 

Dùng quá nhiều ngũ cốc, tinh bột và các chế phẩm từ ngũ cốc có thể gây hại cho thận khiến thận làm việc quá sức. Đặc biệt, nếu dùng quá nhiều các thực phẩm này còn có thể gây ung thư biểu mô tế bào thận và một số bệnh nguy hiểm khác. 

Những người không nên ăn bánh mỳ 



1. Người bị tiểu đường tuýp 2 

Hàm lượng muối quá lớn trong bánh mỳ cộng thêm hàm lượng dinh dưỡng thấp kết hợp với một lượng tinh bột cao tương đương tác dụng của đường lên cơ thể sẽ khiến tình trạng tiểu đường ngày càng nặng hơn. Vì vậy, với những người mắc bệnh tiểu đường thì việc sử dụng bánh mỳ tương đương với việc nạp một lượng đường và muối cực cao vào cơ thể gây hại rất lớn đến sức khỏe. 

2. Người bị cao huyết áp và bệnh tim mạch 

Trong bánh mỳ có chứa hàm lượng tinh bột cao và một loại cholesterol xấu gây hại cho sức khỏe đặc biệt là làm tăng nguy cơ mắc cao huyết áp và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch. Chính vì vậy, những người có tiền sử cao huyết áp hay các bệnh đường tim mạch tuyệt đối không được sử dụng thực phẩm này. 

3. Người có hệ tiêu quá không tốt hay mắc bệnh táo bón 

Bánh mỳ rất nghèo chất dinh dưỡng và chất xơ khiến hệ tiêu hóa gặp áp lực trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề cực nghiêm trọng với những người có tiền sử táo bón hay tiêu hóa không tốt. 

4. Người thừa cân, béo phì 

Nếu bạn đang muốn giảm cân thì hãy tránh xa bánh mỳ. Thực phẩm này khiến cơ thể nhanh chóng tăng cân và tích tụ mỡ thừa không cần thiết gây hại tới sức khỏe. 

5. Những người mệt mỏi, stress 

Theo các nghiên cứu khoa học, tỉ lệ những người mắc bệnh mệt mỏi mãn tính hay thường xuyên bị stress có liên quan trực tiếp đến khẩu phần ăn thường xuyên có bánh mỳ. Loại thực phẩm này sẽ khiến não bộ làm việc kém hiệu quả và không cung cấp đủ dưỡng chất cho cơ thể khiến tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn. 

Để hạn chế những tác hại không mong muốn, người dùng nên lựa chọn bánh mì nguyên cám hoặc bánh mì đen. Tuy vậy, để đảm bảo sức khỏe tốt hơn, hãy hạn chế ăn bánh mì và các thực phẩm chứa gluten. 


Hồng Anh
Click đọc ngay…

Ăn trứng tốt như thế nào với sức khỏe

17:01 |
Trứng gà rất tốt cho sức khỏe mọi người, tuy nhiên không phải cứ ăn nhiều vào là tốt. Vấn đề nằm ở chỗ chế biến thế nào để hấp thu hiệu quả tối ưu của trứng và mỗi lứa tuổi mỗi ngày nên ăn bao nhiêu trứng là phù hợp. 

Trứng là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao có đủ chất đạm (protein), chất béo (lipid), chất đường bột (glucid), vitamin và chất khoáng. Các chất này ở một tỉ lệ cân đối, thích hợp cho sự phát triển của cơ thể. 



Nếu như giá trị sinh học thực chất của trứng toàn phần là 100 thì của cá là 80, thịt bò là 80, gạo tẻ là 57 và của bột mì chỉ là 52. Lòng đỏ là thành phần quan trọng nhất của trứng, chứa khoảng 54% nước, 29,5% lipid; 13,6% protein; 1% glucid và 1% chất khoáng. 

Phụ nữ mang thai ăn trứng sẽ giúp em bé thông minh 

Cơ thể chúng ta rất cần protein, cacbon, vitamin, cenlulo, các nguyên tố vi lượng, mỡ và rất nhiều các nguyên tố khác. Nhưng đa số các hợp chất cần thiết cho cơ thể trên đều có trong trứng gà. Tất cả các chất dinh dưỡng cần cho cơ thể đều có trong trứng gà và đối với những phụ nữ đang mang thai thì trứng gà là loại thực phẩm lý tưởng. 

Cứ khoảng 100g trứng gà có thể mang lại 10,8g chất protein, loại chất này không những chỉ tốt cho sức khỏe của thai nhi mà còn rất tốt cho sức khỏe của người mẹ. Trong 100g trứng gà chứa 600g cholesterol. Ngoài cholesterol ra, trứng gà còn chứa rất nhiều các loại vitamin giúp tăng trí nhớ. 

Chính vì thế mà ăn nhiều trứng gà giúp thông minh và rất có lợi cho thai nhi. Tuy nhiên không nên ăn trứng trần. Bởi trứng chưa nấu chín có thể sẽ chứa vi khuẩn gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe. Chính vì thế mà phụ nữ mang thai tốt nhất là nên luộc hoặc chế biến kỹ trứng gà trước khi ăn để đảm bảo sức khỏe cho bản thân cũng như cho thai nhi. 

Dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ em 

Trẻ em rất cần một chế độ dinh dưỡng phù hợp để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện. Nhưng nếu giai đoạn này mà trẻ em không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng thì sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, sức đề kháng yếu, gầy đi và trí thông minh giảm sút. 

Trứng gà có chứa rất nhiều protein, cholesterol, các loại vitamin và khoáng chất rất có lợi cho sự phát triển của trẻ em, giúp bé phát triển một cách toàn diện hơn. Chính vì thế mà mọi người thường nói rằng trứng gà là sản phẩm thích hợp cho sự phát triển của trẻ. Trẻ không thừa cân mỗi ngày có thể ăn 1 quả trứng. Nếu ăn nhiều quá sẽ gây ra các bệnh về đường ruột. 

Trứng gà nếu chế biến thành súp sẽ dễ dàng hơn trong việc tiêu hóa. Cách làm này làm phân giải các chất protein trong trứng và giúp trẻ em dễ dàng hơn trong việc tiêu hóa. 



Người có tuổi vẫn cần ăn trứng 

Ngoài protein có giá trị sinh học cao trứng còn chứa nhiều canxi, sắt, vitamin A là những chất rất cần thiết cho người có tuổi. Người ta cũng ngại ở trứng chứa nhiều cholesterol là chất không tốt cho bệnh tim mạch mà người có tuổi thường hay mắc phải như bệnh xơ vữa động mạch, tăng huyết áp. 

Chính vì vậy cần dung hòa giữa những ưu điểm và hạn chế của trứng đối với sức khỏe người có tuổi. Không nên ăn quá nhiều và cũng không nên kiêng hẳn vì trong trứng có nhiều lexitin rất dễ hấp thu và đồng hóa trong cơ thể. Mỗi tuần nên có 3 - 4 quả trứng trong khẩu phần ăn là được. 

Những bệnh nhân đang bị sốt, ăn trứng gà giúp tăng cường sức lực 

Trứng gà là loại thực phẩm có chứa nhiều protein nên sau khi ăn vào sẽ giúp bổ sung năng lượng cho cơ thể. Những người đang bị sốt nếu ăn trứng gà (đặc biệt là trẻ em) sẽ giúp tăng sức đề kháng. Sau khi hạ sốt, cơ thể cần được bổ sung năng lượng và các chất dinh dưỡng.

Ăn trứng gà không những giúp hạ sốt mà còn giúp cơ thể bồi bổ sức khỏe, gia tăng lượng hồng cầu khiến da dẻ trông hồng hào và đẹp hơn rất nhiều. 


BS. Lưu Thiện Bích
Click đọc ngay…

Những lưu ý khi ăn thịt bò không phải ai cũng biết

09:39 |
Thịt bò là món khoái khẩu của đại đa số người dân trên toàn thế giới nhưng không phải ai cũng biết cách ăn thịt bò làm sao có lợi nhất. 

1. Không ăn cùng rượu trắng 

Rượu trắng có tính nóng khi ăn cùng thịt bò sẽ rất dễ khiến cho răng lợi dễ bị nhiễm trùng. Nếu sử dụng thường xuyên và kéo dài dễ bị táo bón, viêm miệng, ù tai, đỏ mắt… 



2. Không ăn thịt bò nướng 

Mọi người thường thích ăn những miếng thịt bò nướng cháy cạnh. Tuy nhiên, thịt bò được các chuyên gia khuyến cáo không nên ăn nướng, hun khói để tránh sản sinh ra chất gây ung thư như: nitrosamine và benzopyrene có hại cho sức khỏe. 

3. Không ăn cùng thịt lợn 

Hai loại thịt này kết hợp với nhau sẽ tạo ra xung khắc, vì thịt bò có tính ôn còn thịt lợn có tính hàn. Nếu sử dụng cùng một lúc cơ thể không thể hấp thụ được hết chất dinh dưỡng. 

4. Không ăn quá nhiều 

Trong thịt bò có nhiều cholesterol, nhiều mỡ bởi vậy mỗi ngày chỉ nên dùng 80 g là đủ. Nếu thường xuyên ăn thịt bò sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến và ung thư đại tràng. Người già và trẻ nhỏ hệ tiêu hóa kém cũng không nên ăn nhiều thịt bò. 

5. Không ăn vào buổi tối 

Thịt bò rất giàu sắt cho nên khi ăn vào buổi tối gan sẽ phải hoạt động nhiều hơn. Điều này sẽ gây nhiễu đồng hồ sinh học của gan dẫn đến hậu quả lượng đường trong máu tăng bất thường. 

6. Không ăn cùng hải sản 

Trong thịt bò có chứa photpho, còn hải sản lại giàu magie và canxi, những chất này phản ứng với nhau sẽ tạo thành kết tủa dạng muối. Và kết tủa này sẽ làm giảm quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong cơ thể. 

7. Không ăn thịt bò khi bị viêm thận 

Thịt bò là thực phẩm giàu protein, người bị viêm thận không nên ăn nhiều để giảm bớt gánh nặng cho thận. 

8. Không kết hợp thịt bò với các thực phẩm sau 

- Thịt bò kết hợp cùng đường đỏ sẽ dẫn đến trường khí. 

- Thịt bò kết hợp với đồ muối (rau, dưa muối) sẽ dễ bị trúng độc. 

- Thịt bò kết hợp cùng cá nheo, ốc đồng sẽ có thể dẫn tới bị trúng độc. 

- Thịt bò kết hợp cùng đậu tương sẽ có thể làm tổn thương ngũ tạng.
Click đọc ngay…